Cuốn sách dày hơn 300 trang được thầy viết với một văn phong vô cùng gần gũi, dễ hiểu. Thầy đưa ra những ví dụ rất thiết thực, gần gũi với đời sống, tâm lý và tư duy của người Việt. Từ đó giúp người đọc hiểu sâu thế nào là tư duy hệ thống (tư duy đa tuyến) và thế nào là tư duy cục bộ (tư duy đơn tuyến).
Tư duy này trải dài trong tất cả các khía cạnh của đời sống, từ cấp vi mô cho đến vĩ mô mà ai ai cũng có thể nhìn thấy hình ảnh bản thân, gia đình và đất nước mình trong đó. Cuốn sách mang tới rất nhiều bài học hữu ích. Đặc biệt là về tư duy hệ thống, trực giác, sáng kiến cá nhân và tự học.
Đây cũng là bốn trụ cột quan trọng để giải phóng con người của chúng ta trong thời đại AI. Mình xin chia sẻ lại với các bạn 4 bài học then chốt mà mình tâm đắc nhất trong cuốn sách này của giáo sư – một người mà mình vô cùng kính trọng, ngưỡng mộ và biết ơn.
Tư duy hệ thống là việc nhìn thấy thấy sự vật trong mối quan hệ chằng chịt của nguyên nhân – kết quả. Vạn vật là bức tranh tổng thể, chúng vận hành và liên kết chặt chẽ với nhau. Chỉ cần mất cân bằng ở một thành phần rất nhỏ thì hệ thống toàn bộ hệ thống có thể bị sụp đổ hoặc tiêu vong.
Cũng từ đây để ta hiểu rằng, mỗi chúng ta đều không tồn tại độc lập mà luôn là một phần trong các hệ thống gia đình, tổ chức, xã hội và chính bản thân mình trong dòng chảy thời gian. Vậy nên khi làm bất cứ một việc gì thì phải nhìn rõ được bức tranh tổng thể, chỗ đứng của mình trong toàn bộ hệ thống. Có như vậy thì chúng ta mới có thể nhìn nhận đúng đắn và đưa ra những giải pháp tối ưu.
Để có thể áp dụng tư duy hệ thống một cách hiệu quả trong cuộc sống thì việc đầu tiên là chúng ta sẽ luôn tìm hiểu tại sao trong mọi hoàn cảnh để hiểu được điều cốt lõi của sự vật, hiện tượng và bản chất vấn đề. Sau đó mới đưa ra những giải pháp bằng những câu hỏi như: Làm thế để làm gì? Như thế nào? Ảnh hưởng đến ai?
Trong cuốn sách, thầy không gán cho trực giác một màu sắc huyền bí hay cảm tính mơ hồ mà ngược lại thầy đưa trực giác phải đúng vị trí của nó trong hệ sinh thái trí tuệ: trực giác không phải là cảm tính – mà là đỉnh cao của nội lực tư duy.
Phần này là mình nhớ tới cuốn sách “làm chủ” của Robert Greene. Tác giả cũng nghiên cứu rất sâu về những người xuất chúng, đặc biệt là phần trực giác của họ. Trực giác của họ mạnh tới mức đứng trước những vấn đề nan giải, hóc búa họ chỉ cần vài giây là nhìn ra giải pháp tối ưu. Nó không tới từ cảm tính nhất thời mà đến từ sự tích luỹ nhiều năm tháng của tư duy, trải nghiệm. Nó đến từ phần sâu nhất của tâm trí đó là tiềm thức và siêu thức.
Trực giác trong cách hiểu này không còn là linh cảm mơ hồ mà là một sự chín muồi về tuệ giác. Đó là kết quả của sự lắng đọng tri thức, trải nghiệm sâu sắc và khả năng kết nối mạnh mẽ các thành phần với nhau. Đúng như thầy nói “Trực giác sẽ mang lại giá trị lớn hơn rất nhiều nếu nó xuất phát từ nền tảng học thức cao và văn hoá rộng.” Càng học tập, càng tư duy, càng tự rèn giũa bản thân để nâng cao nội lực, phát triển trí tuệ thì trực giác sẽ càng phát triển mạnh mẽ.
Tư duy hệ thống và trực giác là anh em sinh đôi. Chúng bổ trợ và đồng hành cùng với nhau rất tốt. Nếu tư duy hệ thống là bản đồ thì trực giác chính là la bàn. Nhờ có tư duy hệ thống, trực giác mới được đặt đúng chỗ, tránh rơi vào cảm tính nhất thời.
Hai yếu tố này không tách rời – chúng nâng đỡ nhau, tạo nên trí tuệ toàn vẹn. Nếu một người chỉ có bản đồ thì có thể đi đúng phương pháp nhưng sai hướng sống. Còn một người chỉ có la bàn thì có sự nhạy bén nhưng dễ cảm tính và mất phương hướng.
Sáng kiến cá nhân – giá trị thật trong thời đại thừa thãi thông tin. Khi tri thức trở nên phổ biến, dễ tra cứu, dễ sao chép – thì điều còn lại tạo nên giá trị của một người không phải là “biết gì” mà là “nghĩ được gì từ những điều đã biết.” Đây chính là tài sản quý giá nhất của thời đại.
Mà muốn sở hữu loại tài sản này thì chúng ta sẽ cần phải có những suy nghĩ riêng, lý luận độc đáo để xử lý và phát triển những kiến thức đáng thừa mứa ngoài kia. Tạo ra những ý tưởng, giải pháp mới cho những vấn đề trong đời sống.
Mà muốn làm được điều đó thì chúng ta phải loại bỏ những tư duy sai lệch bao gồm tư duy học thuộc, tư duy dã tràng. Trong đó tư duy học thuộc vẫn là tư duy phổ biến trong giáo dục của chúng ta hiện nay. Ghi nhớ để làm gì khi mà ChatGPT và Google đã làm điều đó rất tốt. Cái ta cần là ta có thể làm gì với những kiến thức ấy? Làm sao để biến nó thành những ý tưởng để xử lý những vấn đề tồn đọng ngoài kia?
Thứ hai là tư duy dã tràng, loại tư duy rập khuôn, hình thức, lặp đi lặp lại không hiệu quả. Loại hình tư duy mà rất nhiều cá nhân, doanh nghiệp đang gặp phải. Nhiều người khi được giao nhiệm vụ là lăn xả vào làm mà không tư duy xem tại sao phải làm? Làm thế để làm gì? Và làm điều đó cho ai?
Thế rồi ngay cả khi không thể làm được cũng không phản hồi, không dám phản biện, bày tỏ ý kiến. Dẫn đến hệ quả là tới ngày bàn giao nhưng vẫn chưa hoàn thành nhiệm vụ. Rồi một loạt lý do được đưa ra để giải trình nào là quá khó để thực thi, nào là không đủ nguồn lực, nào là không biết phải bắt đầu từ đâu….
Mình không dám nói mình là người có tư duy hệ thống tốt nhưng mình chắc chắn một điều là mình đã có ý thức học hỏi về nó rất nhiều trong suốt những năm qua. Về bản chất mình vốn là người mạnh về tư duy thực thi.
Điều này đã được thể hiện rất rõ ràng từ những ngày đi học đại học. Khi đi làm chuyên viên tư vấn tuyển sinh, chỉ cần được cấp trên định hướng về phương pháp và quy trình thì mình đều làm rất tốt – thậm chí luôn dẫn đầu đội nhóm trong nhiều năm sau đó. Mặc dù mình là người ít tuổi nhất. Ra trường làm nhân viên kinh doanh cũng vậy, mình luôn là một trong những nhân viên xuất sắc nhất của phòng kinh doanh.
Tuy nhiên bản thân mình luôn ý thức được rằng nếu muốn đi xa, mình cần phải nhìn được hành trình của bản thân như một bức tranh tổng thể – ngày ấy chưa ai gọi tên ra cho mình đó là tư duy hệ thống như thầy.
Nhờ quá trình này mình đã tạo ra một bước tiến lớn cho sự nghiệp. Dù vào công ty sau, nhưng rất nhanh mình đã có thể vươn lên vị trí số 1 nhờ tư duy hệ thống. Ngày làm viễn thông, mình mất gần một năm để phát triển mạng lưới đại lý, giúp mình tìm kiếm khách hàng ngoài thị trường thay vì ngày nào cũng lăn xả ra làm. Nhưng sau này sang môi trường về chăm sóc sức khoẻ, mình chỉ mất một tháng để trở thành huyền thoại nơi đó.
Không phải do mình giỏi mà là vì mình có phương pháp đúng. Và tư duy hệ thống là chìa khoá cho quá trình ấy. Tới nơi làm mới, việc đầu tiên của mình chính là quan sát. Mình quan sát mọi thứ, từ sếp, đồng nghiệp, tới những giá trị mà nơi đó ưu tiên. Đặc biệt là văn hoá làm việc. Mình quan sát, ghi chép thật kĩ quy trình làm việc, cách vận hành của tổ chức. Mình kết nối các điểm này lại với nhau.
Sau đó bắt đầu phân tích xem nơi đây đang cần những giá trị gì? Làm thế nào để mình có thể đóng góp giá trị đó? Mình có hay không thứ mà doanh nghiệp đang cần? Nếu có thì mình mạnh nhất ở đâu? Mình sẽ triển khai thế nào? Làm sao cho hiệu quả?
Chỉ bấy nhiêu thôi mà mình đã từng bước trở thành người dẫn đầu tại những môi trường mà mình hiện diện. Dĩ nhiên trước kia trong kinh doanh, doanh số, sự yêu mến của khách hàng rất dễ để đo lường được vì nó thể hiện qua số liệu, bảng biểu.
Còn giờ đây khi làm trong giáo dục, nó khó hơn rất nhiều. Thứ mà mình đo lường chính là sự ảnh hưởng mà mình tạo ra. Ảnh hưởng tới cách sống, cách làm việc và tâm thế học của mình với các học viên, sinh viên và độc giả theo thời gian. May mắn là mình có thể nhìn thấy nó rất rõ qua những lời cảm ơn và ghi nhận. Vì thành quả thật sự cho sự ảnh hưởng của mình chính là sự thay đổi, chuyển hoá của ai đó theo thời gian khi tương tác hay đồng hành cùng mình.
Cuối cùng chính là tự học, tự học không phải tích lũy kiến thức, mà là xây dựng hệ tư duy cá nhân. Thầy có nhấn mạnh rằng:“Tự học không phải là một quyết định ngẫu nhiên từ một đầu dây lý thuyết, mà là công cuộc giải mã không ngừng về cuộc sống thực tế.”
Tự học trong tinh thần của tư duy hệ thống không phải là học thêm nhiều, học rộng hơn mà là luôn tự đặt câu hỏi: Tại sao? Như thế nào? Để làm gì? Cho ai? Để hiểu hơn về thế giới đang sống. Nhìn ra một bức tranh tổng thể, từ đó tự kết nối được những những điều học được vào vấn đề thật của mình.
Tiếp đó là khám phá ra giá trị mà cộng đồng đang chờ đợi. Từ đó dựa vào sở thích, đam mê, khao khát của bản thân để trau dồi kiến thức, kỹ năng nhằm tạo ra giá trị để đóng góp cho cộng đồng. Đây cũng là quá trình mà chúng ta tự tạo ra một bản đồ tư duy cá nhân, nơi mỗi mảng kiến thức đều có chỗ đứng và chức năng riêng của nó.
AI không đáng sợ – điều đáng sợ là người không biết tư duy. Mình rất thấm chia sẻ của thầy “Một người điên sau khi sử dụng AI sẽ làm cho sự điên đó trở nên trầm trọng hơn.” Câu nói ấy lật ngược cả một niềm tin phổ biến rằng “AI sẽ giúp cho mọi người thông minh hơn, giỏi giang hơn”.
Thực tế ai chỉ khuếch đại những gì mà người dùng đang mang bên trong. Một người lười tư duy dùng ai để nghĩ thay thì tư duy sẽ ngày càng teo lại. Một người lệch lạc dùng AI để khẳng định thiên kiến thì sẽ càng lệch lạc trầm trọng hơn. Còn một người thiếu hiểu biết nếu dùng AI để hành động thì sẽ tạo ra những hậu quả khôn lường.
Vậy nên trong kỷ nguyên AI này, tinh thần tự học chuyên sâu quan trọng hơn bao giờ hết. Trong đó tư duy hệ thống, phương pháp lập luận là chìa khoá vô cùng quan trọng trong quá trình ấy. Bởi nếu không có tư duy hệ thống, không có phương pháp lập luận đúng đắn thì AI sẽ biến con người thành nô lệ của chính hệ thống mà mình tạo ra.
